Câu chuyện này gồm có hai phần. Phần đầu có thể lặng lẽ lướt qua không có gì vướng mắc. Tuy nhiên cũng cứ xin kể vì nó giới thiệu một phần nào các nhân vật.
Chúng tôi đang ở trong một lâu đài thuộc nơi thôn dã. Chủ nhân đang vắng nhà mấy ngày. Một bà sang trọng, vợ goá ông chủ xưởng thuộc da ở thành phố cạnh đấy, đến chơi. Bà dắt theo một con chó, loại chó ngắn mõm. Bà đến cầm đỡ để vay tiền. Bà mang đến nhiều chứng thư đã trình toà và một mớ giấy tờ vô dụng. Chúng tôi khuyên bà cho cả vào phong bì gửi cho ông chủ lâu đài: “Quan tổng thanh tra quân đội, Hiệp sĩ X…”
Bà chăm chú nghe, cầm lấy bút, dựng lại và yêu cầu chúng tôi nhắc lần nữa, chậm hơn, cái địa chỉ ấy. Chúng tôi đọc lại cho bà viết: “Quan tổng thanh tra…” Tới đó bà dừng lại, không biết chữ “tra” viết ch hay tr. Bà thở dài nói:
- Chao ôi, tôi là một người đàn bà làm sao có thể viết nổi những chữ ấy?
Con chó nằm trên sàn nhà gầm gừ có vẻ không hài lòng lắm. Thực ra nó theo chủ đi chỉ để bồi dưỡng sức khỏe và vui chơi thôi, thế mà người ta chẳng đưa ra một tấm thảm để mời nó nằm nghỉ.
Trông nó rất xấu, với cái mõm ngắn ngủn và cái gáy u lên những mỡ là mỡ. Nó tiếp tục sủa điếc cả tai.
Bà khách nói:
- Các ông đừng bận tâm đến nó, nó không cắn đâu, trước hết là vì nó không còn răng, sau nữa là nó rất lành. Chúng tôi nuôi nó lâu lắm rồi, đến nỗi bây giờ coi nó như người trong nhà. Các cháu tôi đã làm hư nó. Chúng chơi trò cưới cho búp bê và con chó đóng vai quan chánh án đến làm phép cưới. Trò ấy làm cho con chó đáng thương mệt mỏi và trở nên khó tính.
Rồi bà cũng viết xong cái địa chỉ và ra về, tay ôm chó.
Đó là phần đầu câu chuyện mà ta có thể tạm gác sang bên.
2
Con chó ngắn mõm chết. Đến đây bắt đầu phần thứ hai.
Chúng tôi ra tỉnh và trọ trong một khách sạn trước mặt nhà cái bà hôm nọ. Cửa sổ chúng tôi nhìn sang sân nhà ấy. Người ta lấy ván ngăn nó ra làm đôi. Một bên xếp các tấm da và dụng cụ thuộc da, bên kia là mảnh vườn có một toán trẻ con đang nô đùa, đó là các cháu trai, cháu gái của bà chủ nhà.
Chúng vừa mới chôn xong con chó đáng thương. Chúng đã dựng cho nó một cái nhà mồ tuyệt đẹp, xứng với cái giống chó quý hóa ấy. Chúng lấy mảnh bát đĩa vỡ lát thành một vành đai quanh mộ, ở giữa cắm một cái chai vỡ miệng chống thẳng lên giời.
Sau khi tổ chức tang lễ một cách trịnh trọng, bọn trẻ con quây tròn nhảy múa xung quanh mộ. Trong bọn có một đứa con trai lên bảy tuổi, có đầu óc thực tế, đề nghị tổ chức triển lãm cái lăng rực rỡ ấy cho trẻ con hàng xóm đến xem. Tiền vào cửa định giá là một chiếc khuy quần. Đứa con trai nào cũng có thể có một cái khuy và nhiều đứa sẵn sàng biếu bạn gái một cái thứ hai, như thế chúng sẽ thu được vô khối khuy quần.
Kế hoạch đó được đồng thanh chấp nhận và chúng loan báo cho bọn lau nhau quanh đấy.
Rồi trẻ con cả phố và những ngõ lân cận kéo đến. Đứa nào cũng đưa một chiếc khuy quần theo yêu cầu. Chiều hôm ấy có rất nhiều đứa bé trở về nhà quần chỉ còn một bên dây đeo, nhưng chúng cũng đã được ngắm mộ con chó ngắn mõm.
Trước lối đi vào sân, có một en bé gái, quần áo rách rưới, đứng sát vào tận cửa. Em rất xinh xắn, có bộ tóc xoăn rất đẹp và đôi mắt màu xanh dịu nhất đời. Em không nói và cũng chẳng khóc, nhưng mỗi lần cửa mở ra, em nhìn rõ lâu vào trong sân. Em không có khuy và em cũng biết là chẳng ai cho em đâu. Em đứng đấy, rầu rĩ, cho đến khi tất cả những đứa trẻ khác xem xong cái lăng và ra về.
Lúc ấy em ngồi phệt xuống đất, úp đôi bàn tay xinh xắn vào mặt, khóc nức nở. Chỉ một mình em không được xem mộ con chó. Và đó là câu chuyện đau lòng như bất cứ câu chuyện đau lòng nào khác mà người ta gặp phải ở bất cứ lứa tuổi nào.
Từ trên cửa sổ chúng tôi đã nhìn thấy rõ tất cả, và quả thật, khi từ trên cao nhìn xuống những chuyện đau lòng của người khác và ngay của chính mình đi nữa, người ta không khỏi mỉm cười.
A Great Grief
This story really consists of two parts. The first part might be left out, but it gives us a few particulars, and these are useful.
We were staying in the country at a gentleman’s seat, where it happened that the master was absent for a few days. In the meantime, there arrived from the next town a lady; she had a pug dog with her, and came, she said, to dispose of shares in her tan-yard. She had her papers with her, and we advised her to put them in an envelope, and to write thereon the address of the proprietor of the estate, “General War-Commissary Knight,” &c.
She listened to us attentively, seized the pen, paused, and begged us to repeat the direction slowly. We complied, and she wrote; but in the midst of the “General War-” she struck fast, sighed deeply, and said, “I am only a woman!” Her Puggie had seated itself on the ground while she wrote, and growled; for the dog had come with her for amusement and for the sake of its health; and then the bare floor ought not to be offered to a visitor. His outward appearance was characterized by a snub nose and a very fat back.
“He doesn’t bite,” said the lady; “he has no teeth. He is like one of the family, faithful and grumpy; but the latter is my grandchildren’s fault, for they have teased him; they play at wedding, and want to give him the part of the bridesmaid, and that’s too much for him, poor old fellow.”
And she delivered her papers, and took Puggie upon her arm. And this is the first part of the story which might have been left out.
PUGGIE DIED!! That’s the second part.
It was about a week afterwards we arrived in the town, and put up at the inn. Our windows looked into the tan-yard, which was divided into two parts by a partition of planks; in one half were many skins and hides, raw and tanned. Here was all the apparatus necessary to carry on a tannery, and it belonged to the widow. Puggie had died in the morning, and was to be buried in this part of the yard; the grandchildren of the widow (that is, of the tanner’s widow, for Puggie had never been married) filled up the grave, and it was a beautiful grave-it must have been quite pleasant to lie there.
The grave was bordered with pieces of flower-pots and strewn over with sand; quite at the top they had stuck up half a beer bottle, with the neck upwards, and that was not at all allegorical.
The children danced round the grave, and the eldest of the boys among them, a practical youngster of seven years, made the proposition that there should be an exhibition of Puggie’s burial-place for all who lived in the lane; the price of admission was to be a trouser button, for every boy would be sure to have one, and each might also give one for a little girl. This proposal was adopted by acclamation.
And all the children out of the lane-yes, even out of the little lane at the back-flocked to the place, and each gave a button. Many were noticed to go about on that afternoon with only one suspender; but then they had seen Puggie’s grave, and the sight was worth much more.
But in front of the tan-yard, close to the entrance, stood a little girl clothed in rags, very pretty to look at, with curly hair, and eyes so blue and clear that it was a pleasure to look into them. The child said not a word, nor did she cry; but each time the little door was opened she gave a long, long look into the yard. She had not a button-that she knew right well, and therefore she remained standing sorrowfully outside, till all the others had seen the grave and had gone away; then she sat down, held her little brown hands before her eyes, and burst into tears; this girl alone had not seen Puggie’s grave. It was a grief as great to her as any grown person can experience.
We saw this from above; and looked at from above, how many a grief of our own and of others can make us smile! That is the story, and whoever does not understand it may go and purchase a share in the tan-yard from the window.
No comments:
Post a Comment