Nhờ Chúa, Rudy đã thấy những người ở trong nhà ông chú đều giống như những người em vẫn quen nhìn. Ở đây chỉ có một người đần độn, một người ngu dại đáng thương, một trong những con người khốn khổ bị ruồng bỏ mà mỗi gia đình trong tổng Valais đem về nuôi vài ba tháng rồi lại chuyển sang cho những người trung hậu khác nuôi, cũng trong khoảng thời gian tương tự. Con người đáng thương ấy là Saperli.
Chú Rudy vẫn còn là một người thợ săn cường tráng. Ông còn biết làm nghề đóng thùng nữa. Bà vợ ông là một người nhỏ nhắn, hoạt bát, mặt trông như mặt chim, mắt sắc như mắt diều hâu, cổ dài có nhiều lông tơ.
Cái gì cũng mới lại đối với Rudy. Từ quần áo, phong tục cho đến ngôn ngữ. Nhưng riêng vì tiếng nói, trí óc con trẻ của em làm cho em chẳng mấy lúc đã nắm được và quen thuộc. Nhà của chú em so với nhà của ông ngoại có vẻ phong lưu hơn. Các buồng rộng rãi hơn, trên tường có trang hoàng nhiều sừng nai và những khẩu súng săn bóng nhoáng. Bên trên cửa ra vào có treo tranh Đức Mẹ, đằng trước là một ngọn đèn, xung quanh kết hoa hồng vùng Alps.
Chú em không những là một người thợ săn nai giỏi nhất vùng; ông còn là người dẫn đường khá nhất miền này. Chẳng bao lâu Rudy đã trở thành con cưng của gia đình. Ít nhất người ta cũng quý em như con chó săn già, câm và mù, không giúp được việc gì nữa nhưng trước kia đã làm được nhiều việc đến nỗi bây giờ người ta săn sóc nó rất chu đáo, coi như người trong gia đình. Rudy vuốt ve và trìu mến nó. Nhưng con chó ấy không thích xây dựng những quan hệ mới. Có thể nói là Rudy đã sớm bắt rễ vào lòng của mọi người trong gia đình. Chú em bảo: “Chúng ta sống trong tổng Valais này không đến nỗi khổ. Chúng ta luôn có nai. Các giống này không bị mất đi giống sơn dương. Phải, bây giờ cái gì cũng hơn ngày xưa nhiều lắm. Người ta đã kể nhiều rằng thời xưa rất quang vinh. Nhưng thời nay còn hơn nhiều. Trước kia thung lũng của chúng ta tựa như tách rời khỏi thiên hạ, nhưng có một sức mạnh đã phá tan bức tường ngăn cách và một luồng gió mát đã thổi đến làm phấn chấn tất cả vùng”.
Khi nói chuyện, chú Rudy kể lại thời thơ ấu của ông thời mà toàn tổng Valais sống cách biệt, nửa dân số là những người đần độn và tàn tật đáng thương. Ông kể tiếp:
- Nhưng bỗng nhiên quân lính Pháp xuất hiện. Đó là những thầy thuốc mà chúng ta cần. Họ giết người và tiêu diệt luôn cả bệnh tật nữa. Đó là những người biết chiến đấu anh dũng, những chàng trai cứng cỏi. Vả chăng phụ nữ Pháp thật xứng đáng với họ.
Nói đến đấy, ông nhìn bà vợ là người Pháp và cười, miệng ngoác đến tận mang tai.
Ông lại nói tiếp:
- Đánh nhau với người xong, họ liền tấn công núi đá. Chính họ đã xây dựng con đường từ Simplon qua các ngọn núi hiểm trở nhất; và bây giờ ta chỉ cần bảo đứa trẻ lên bà: “Cứ theo đường cái mà sang nước Ý”, thế là nó sẽ tới được tận nước Ý nếu nó cứ theo đi theo đường cái.
Nói đến đây, ông cất tiếng hát một bài cao Pháp và tung hô hoàng đế Napoleon.
Đến bây giờ, Rudy mới được nghe nói đến nước Pháp và đến Lyon, một thành phố lớn trên bờ sông Rhone. Chú em đã từng ở đó.
Ông bảo Rudy: “Chú cho rằng chỉ trong ít năm nữa cháu sẽ thành thợ săn giỏi vì cháu sẵn có rất nhiều tài năng”. Ông dạy em cách cầm súng, cách ngắm và bắn. Ông cho em theo đi săn trên núi, cho em uống tiết nai nóng để trừ chứng chóng mặt.
Ông dạy cho em nhìn hướng mặt trời mà biết được núi lở vào buổi trưa hay buổi tối. Ông bày cho em cách bắt chước những con nai, nhảy sao cho khi xuống đất là đứng vững ngay, không loạng choạng. Ông còn dạy cho em cách thoát khỏi vực sâu khi chẳng may bị lăn xuống: phải tỳ khuỷu tay, dùng bắp chân, dùng cả đến bắp thịt để bấu víu vào những cái mấu nhỏ nhất.
Rudy tiếp thu những cái đó rất nhanh. Em còn biết những mưu mẹo người ta dùng để đánh lừa giống nai, mặc dầu chúng rất tinh khôn, dùng vọng gác và tuần tiễu để canh gác lẫn cho nhau cẩn thận đến thế nào đi chăng nữa. Em thấy chú em treo áo và mũ lên một cái gậy rồi lảng tránh ra phía khác để cho con nai tội nghiệp mải nhìn bộ quần áo mà mất cảnh giác.
Một hôm Rudy theo chú đi săn. Ông ta cũng dùng mưu mẹo đó. Đường nhỏ hẹp, hay nói cho đúng hơn, chỉ có một vệt mờ, đó chỉ là một cái rìa núi mỏng mảnh chênh vênh trên miệng vực. Tuyết đang tan dở dang. Đá lở dưới chân và lăn xuống vực, vì vậy chú em phải nằm dán mình xuống đất và trườn lên, thế mà thỉnh thoảng cũng vẫn có một hòn đá long ra, rơi xuống, nhảy muôn ngàn cái từ mỏm đá này sang mỏm đá khác trước khi chạm xuống đáy vực đen ngòm.
Rudy đứng trước ông chú chừng một trăm bước, trên tảng đá vững chãi ở phía sau. Nhưng kìa, một con đại bàng lớn bay thẳng đến chỗ người thợ săn đang trườn như một con sâu; nó định dùng cánh quạt ngã ông ta xuống vực để xé xác ăn thịt. Chú Rudy không nhìn thấy nó vì ông vừa trông thấy và đang mải theo dõi con nai mẹ đang đứng với con ở bờ vực bên kia.
Rudy trông thấy con chim dữ và đoán biết ý định của nó. Em giơ súng lên sắp sửa bắn. Ngay lúc đó, con nai giật mình nhảy lên chạy lên chạy trốn. Ông chú nổ súng, con vật trúng đạn lăn ra chết, trong khi nai con tẩu thoát, nhảy qua các mỏm núi và lao qua các các vực thẳm vững chắc như một con nai lớn.
Con đại bàng nghe tiếng súng nổ sợ hãi bay đi. Nghe Rudy kể lại, ông chú Rudy mới biết mối nguy vừa đe dọa ông.
Ông đi nhặt xác con nai rồi họ vui vẻ quay về nhà. Ông chú rất mừng, cất tiếng hát một bài ca thuộc từ hồi còn trẻ. Bỗng gần đấy nổi lên một tiếng động khác thường. Họ ngước mắt nhìn lên. Cao tít trên đỉnh núi hiểm trở, bão tuyết dâng lên, chuyển động như một tấm lụa bị gió thổi rập rờn lên như sóng.
Rồi tất cả đám băng tuyết ấy tan ra, phân tán ra, tựa như một thứ bọt trắng lao xuống, ầm ầm như sấm động. Đó là một trận băng lở khủng khiếp. Nó không đổ xuống phía họ nhưng gần lắm, gần quá. Chú Rudy hết sức gào lên: “Cháu đứng cho vững!”. Rudy bám chặt vào một thân cây. Người thợ săn leo lên ôm chặt vào cành cây. Trận băng lở qua cách đấy hàng trăm thước. Nhưng cơn giông tố do nó gây ra làm gẫy tất cả những cây cối quanh đấy như cỏ khô, rồi rải tung ra. Rudy thấy mình ngã sóng sượt trên mặt đất. Cái cây mà em ôm khi nãy tựa như bị cưa tận gốc, ngọn văng ra xa. Tại đó, ông chú bị vỡ đầu, nằm sóng sượt giữa đám cành cây. Tay ông hãy còn nóng. Không còn nhận ra mặt ông nữa. Trước cảnh ghê rợn đó, Rudy tái mặt, run rẩy, đứng lặng đi. Lần đầu tiên, em cảm thấy sợ.
Đến tối khuya, em mới mang tin khủng khiếp đó về nhà. Bà thím lặng đi chẳng nói, cũng chẳng khóc. Chỉ đến lúc người ta mang thi hài về, nỗi đau đớn của bà mới bùng ra.
Anh chàng Saperli đáng thương nằm bẹp trong giường. Cả ngày hôm sau người ta không trông thấy hắn. Đến tối, hắn tìm Rudy và bảo em: “Cậu viết cho tôi một cái thư. Saperli này không viết nhưng biết ra bưu điện bỏ thư”.
Rudy hỏi:
- Viết thư hộ anh à? Gửi cho ai?
- Gửi cho Đức Chúa Jesus của chúng ta.
- Anh nói gì thế?
Anh chàng ngớ ngẩn đáng thương nhìn Rudy bằng một vẻ cảm động nhất, chắp tại là thì thầm, vừa nghiêm trang vừa thành kính: “Jesus ma, lạy Chúa tôi, Saperli này muốn viết cho Chúa để xin Chúa cho Saperli được chết thay cho ông chủ”.
Rudy xiết chặt tay anh ta và phải vất vả mới giảng giải được cho anh hiểu rằng là thư sẽ không lên đến được trên trời và cũng không làm cho người chết sống lại được.
Sau khi làm lễ chôn cất xong, bà thím bảo:
- Bây giờ cháu là cột trụ trong gia đình.
Và thật tình Rudy là như thế.
Chú Rudy vẫn còn là một người thợ săn cường tráng. Ông còn biết làm nghề đóng thùng nữa. Bà vợ ông là một người nhỏ nhắn, hoạt bát, mặt trông như mặt chim, mắt sắc như mắt diều hâu, cổ dài có nhiều lông tơ.
Cái gì cũng mới lại đối với Rudy. Từ quần áo, phong tục cho đến ngôn ngữ. Nhưng riêng vì tiếng nói, trí óc con trẻ của em làm cho em chẳng mấy lúc đã nắm được và quen thuộc. Nhà của chú em so với nhà của ông ngoại có vẻ phong lưu hơn. Các buồng rộng rãi hơn, trên tường có trang hoàng nhiều sừng nai và những khẩu súng săn bóng nhoáng. Bên trên cửa ra vào có treo tranh Đức Mẹ, đằng trước là một ngọn đèn, xung quanh kết hoa hồng vùng Alps.
Chú em không những là một người thợ săn nai giỏi nhất vùng; ông còn là người dẫn đường khá nhất miền này. Chẳng bao lâu Rudy đã trở thành con cưng của gia đình. Ít nhất người ta cũng quý em như con chó săn già, câm và mù, không giúp được việc gì nữa nhưng trước kia đã làm được nhiều việc đến nỗi bây giờ người ta săn sóc nó rất chu đáo, coi như người trong gia đình. Rudy vuốt ve và trìu mến nó. Nhưng con chó ấy không thích xây dựng những quan hệ mới. Có thể nói là Rudy đã sớm bắt rễ vào lòng của mọi người trong gia đình. Chú em bảo: “Chúng ta sống trong tổng Valais này không đến nỗi khổ. Chúng ta luôn có nai. Các giống này không bị mất đi giống sơn dương. Phải, bây giờ cái gì cũng hơn ngày xưa nhiều lắm. Người ta đã kể nhiều rằng thời xưa rất quang vinh. Nhưng thời nay còn hơn nhiều. Trước kia thung lũng của chúng ta tựa như tách rời khỏi thiên hạ, nhưng có một sức mạnh đã phá tan bức tường ngăn cách và một luồng gió mát đã thổi đến làm phấn chấn tất cả vùng”.
Khi nói chuyện, chú Rudy kể lại thời thơ ấu của ông thời mà toàn tổng Valais sống cách biệt, nửa dân số là những người đần độn và tàn tật đáng thương. Ông kể tiếp:
- Nhưng bỗng nhiên quân lính Pháp xuất hiện. Đó là những thầy thuốc mà chúng ta cần. Họ giết người và tiêu diệt luôn cả bệnh tật nữa. Đó là những người biết chiến đấu anh dũng, những chàng trai cứng cỏi. Vả chăng phụ nữ Pháp thật xứng đáng với họ.
Nói đến đấy, ông nhìn bà vợ là người Pháp và cười, miệng ngoác đến tận mang tai.
Ông lại nói tiếp:
- Đánh nhau với người xong, họ liền tấn công núi đá. Chính họ đã xây dựng con đường từ Simplon qua các ngọn núi hiểm trở nhất; và bây giờ ta chỉ cần bảo đứa trẻ lên bà: “Cứ theo đường cái mà sang nước Ý”, thế là nó sẽ tới được tận nước Ý nếu nó cứ theo đi theo đường cái.
Nói đến đây, ông cất tiếng hát một bài cao Pháp và tung hô hoàng đế Napoleon.
Đến bây giờ, Rudy mới được nghe nói đến nước Pháp và đến Lyon, một thành phố lớn trên bờ sông Rhone. Chú em đã từng ở đó.
Ông bảo Rudy: “Chú cho rằng chỉ trong ít năm nữa cháu sẽ thành thợ săn giỏi vì cháu sẵn có rất nhiều tài năng”. Ông dạy em cách cầm súng, cách ngắm và bắn. Ông cho em theo đi săn trên núi, cho em uống tiết nai nóng để trừ chứng chóng mặt.
Ông dạy cho em nhìn hướng mặt trời mà biết được núi lở vào buổi trưa hay buổi tối. Ông bày cho em cách bắt chước những con nai, nhảy sao cho khi xuống đất là đứng vững ngay, không loạng choạng. Ông còn dạy cho em cách thoát khỏi vực sâu khi chẳng may bị lăn xuống: phải tỳ khuỷu tay, dùng bắp chân, dùng cả đến bắp thịt để bấu víu vào những cái mấu nhỏ nhất.
Rudy tiếp thu những cái đó rất nhanh. Em còn biết những mưu mẹo người ta dùng để đánh lừa giống nai, mặc dầu chúng rất tinh khôn, dùng vọng gác và tuần tiễu để canh gác lẫn cho nhau cẩn thận đến thế nào đi chăng nữa. Em thấy chú em treo áo và mũ lên một cái gậy rồi lảng tránh ra phía khác để cho con nai tội nghiệp mải nhìn bộ quần áo mà mất cảnh giác.
Một hôm Rudy theo chú đi săn. Ông ta cũng dùng mưu mẹo đó. Đường nhỏ hẹp, hay nói cho đúng hơn, chỉ có một vệt mờ, đó chỉ là một cái rìa núi mỏng mảnh chênh vênh trên miệng vực. Tuyết đang tan dở dang. Đá lở dưới chân và lăn xuống vực, vì vậy chú em phải nằm dán mình xuống đất và trườn lên, thế mà thỉnh thoảng cũng vẫn có một hòn đá long ra, rơi xuống, nhảy muôn ngàn cái từ mỏm đá này sang mỏm đá khác trước khi chạm xuống đáy vực đen ngòm.
Rudy đứng trước ông chú chừng một trăm bước, trên tảng đá vững chãi ở phía sau. Nhưng kìa, một con đại bàng lớn bay thẳng đến chỗ người thợ săn đang trườn như một con sâu; nó định dùng cánh quạt ngã ông ta xuống vực để xé xác ăn thịt. Chú Rudy không nhìn thấy nó vì ông vừa trông thấy và đang mải theo dõi con nai mẹ đang đứng với con ở bờ vực bên kia.
Rudy trông thấy con chim dữ và đoán biết ý định của nó. Em giơ súng lên sắp sửa bắn. Ngay lúc đó, con nai giật mình nhảy lên chạy lên chạy trốn. Ông chú nổ súng, con vật trúng đạn lăn ra chết, trong khi nai con tẩu thoát, nhảy qua các mỏm núi và lao qua các các vực thẳm vững chắc như một con nai lớn.
Con đại bàng nghe tiếng súng nổ sợ hãi bay đi. Nghe Rudy kể lại, ông chú Rudy mới biết mối nguy vừa đe dọa ông.
Ông đi nhặt xác con nai rồi họ vui vẻ quay về nhà. Ông chú rất mừng, cất tiếng hát một bài ca thuộc từ hồi còn trẻ. Bỗng gần đấy nổi lên một tiếng động khác thường. Họ ngước mắt nhìn lên. Cao tít trên đỉnh núi hiểm trở, bão tuyết dâng lên, chuyển động như một tấm lụa bị gió thổi rập rờn lên như sóng.
Rồi tất cả đám băng tuyết ấy tan ra, phân tán ra, tựa như một thứ bọt trắng lao xuống, ầm ầm như sấm động. Đó là một trận băng lở khủng khiếp. Nó không đổ xuống phía họ nhưng gần lắm, gần quá. Chú Rudy hết sức gào lên: “Cháu đứng cho vững!”. Rudy bám chặt vào một thân cây. Người thợ săn leo lên ôm chặt vào cành cây. Trận băng lở qua cách đấy hàng trăm thước. Nhưng cơn giông tố do nó gây ra làm gẫy tất cả những cây cối quanh đấy như cỏ khô, rồi rải tung ra. Rudy thấy mình ngã sóng sượt trên mặt đất. Cái cây mà em ôm khi nãy tựa như bị cưa tận gốc, ngọn văng ra xa. Tại đó, ông chú bị vỡ đầu, nằm sóng sượt giữa đám cành cây. Tay ông hãy còn nóng. Không còn nhận ra mặt ông nữa. Trước cảnh ghê rợn đó, Rudy tái mặt, run rẩy, đứng lặng đi. Lần đầu tiên, em cảm thấy sợ.
Đến tối khuya, em mới mang tin khủng khiếp đó về nhà. Bà thím lặng đi chẳng nói, cũng chẳng khóc. Chỉ đến lúc người ta mang thi hài về, nỗi đau đớn của bà mới bùng ra.
Anh chàng Saperli đáng thương nằm bẹp trong giường. Cả ngày hôm sau người ta không trông thấy hắn. Đến tối, hắn tìm Rudy và bảo em: “Cậu viết cho tôi một cái thư. Saperli này không viết nhưng biết ra bưu điện bỏ thư”.
Rudy hỏi:
- Viết thư hộ anh à? Gửi cho ai?
- Gửi cho Đức Chúa Jesus của chúng ta.
- Anh nói gì thế?
Anh chàng ngớ ngẩn đáng thương nhìn Rudy bằng một vẻ cảm động nhất, chắp tại là thì thầm, vừa nghiêm trang vừa thành kính: “Jesus ma, lạy Chúa tôi, Saperli này muốn viết cho Chúa để xin Chúa cho Saperli được chết thay cho ông chủ”.
Rudy xiết chặt tay anh ta và phải vất vả mới giảng giải được cho anh hiểu rằng là thư sẽ không lên đến được trên trời và cũng không làm cho người chết sống lại được.
Sau khi làm lễ chôn cất xong, bà thím bảo:
- Bây giờ cháu là cột trụ trong gia đình.
Và thật tình Rudy là như thế.
No comments:
Post a Comment