(Truyện cổ Andersen)
Các bạn đọc thân mến, tôi đưa các bạn sang đất nước Thụy Sỹ. Hãy nhìn xung quanh các bạn, nhìn lên những khu rừng âm u trên những đỉnh núi hiểm trở. Hãy trèo lên những bãi tuyết sáng chói và trở xuống những bình nguyên xanh tươi, ở đấy có biết bao nhiêu sông con và khe suối đang ầm ầm chảy xiết, như sợ không đến kịp để tiêu tan trong biển cả. Mặt trời rọi những tia nóng bỏng vào những thung lũng sâu, làm tan những khối tuyết. Đến đêm tuyết lại đông lại thành những tảng băng, lở ra rồi lăn xuống núi, hoặc đóng thành những con sông băng chồng chất lên nhau. Trong số ấy có hai con sông băng đóng đầy những khe vực lớn dưới chân hai ngọn Schreckhorn và Wetterhorn gần thị trấn Grindelwald. Những sông băng ấy hình thành một cách lạ kỳ nên đến mùa hè rất nhiều nhà du lịch từ khắp các nước đến đều dừng chân tại đó. Từ các thung lũng, leo hàng giờ đồng hồ mới lên tới đỉnh núi, ở đó, họ cảm thấy như đang nhìn thấy đồng bằng từ một quả khinh khí cầu lơ lửng trên không. Mây luôn luôn tụ lại trên các ngọn núi thành một màn hơi bao la, còn mặt trời thì chiếu xuống thung lũng làm cho cỏ cây rực rỡ như một bức tranh lụa đặt trước đèn. Phía dưới, nước cuốn ầm ầm như gào thét. Khi còn ở trên cao, nước thì thầm, khẽ róc rách và trườn theo các tảng đá, trải ra thành những dải bạc. Hai bên đường đi lên sông băng là những nhà gỗ, xung quanh mỗi cái có vườn khoai nhỏ nuôi sống các em bé, miệng xinh xắn háu ăn, lốc nhốc trong những gian nhà nhỏ bé đó. Người ta thấy hàng đàn các em bé ấy xô đến trước những người du lịch, vây quanh họ và mời mua những chiếc nhà gỗ xinh xinh do cha mẹ chúng đẽo gọt. Ngày nắng đẹp cũng như ngày mưa trút nước, lũ trẻ con ấy luôn luôn đứng rải rác trên đường để chào mời du khách mua món hàng bé nhỏ của mình. Cách đây chừng hai mươi năm, du khách thấy một em bé cũng đến bán hàng, cùng chạy tới với các trẻ em khác, nhưng bao giờ em cũng đứng cách ra xa một chút. Em có một bộ mặt nghiêm nghị đáng yêu, và hai tay giữ khư khư cái hộp gỗ, tưởng chừng như không bao giờ em muốn rời nó ra cả. Các em khác quấy rầy mọi người. Riêng em chẳng nói chẳng rằng. Nhưng vẻ nghiêm trang của đứa bé làm cho mọi người thích gọi em hơn các em láu táu kia và em bán được nhiều hàng hơn, tuy em chẳng biết tại sao Chính ông em đã đẽo gọt những cái kẹp hột bồ đào, những ông phỗng kỳ quái, những con gấu, những thìa, nĩa, những cái hộp chạm trổ cành lá thanh tao và những con nai mảnh khảnh. Ông cụ ở trên núi cao. Cụ có một tủ đầy những đồ chơi xinh xinh như thế thường làm trẻ con rất mê thích. Nhưng em bé, tên gọi Rudy, không chú ý đến những đồ chơi đó lắm. Cái mà em thích nhìn và thèm muốn, cái mà em khao khát chiếm được, là cây súng cổ treo trên xà nhà. Ông em đã hứa cho em, nhưng chỉ khi nào em đã lớn và đủ sức dùng cây súng ấy. Tuy còn bé tí, em đã phải đi chăn dê. Nếu một tay chăn dê giỏi cần phải biết cùng dê leo lên các mỏm đá thì Rudy là một em bé chăn dê giỏi. Em còn trèo cao hơn cả dê nữa. Em thích trèo lên ngọn cây cao để gỡ tổ chim. Em can đảm, còn liều lĩnh là khác. Chỉ khi nào đến bên một thác nước đang gầm thét, hay nghe thấy tiếng băng lở đổ ầm ầm, mới thấy em mỉm cười. Em chẳng bao giờ chơi với những đứa trẻ khác. Chỉ thấy em trong bọn chúng khi nào ông em sai em đi bán các đồ gỗ chạm trổ do ông cụ làm ra. Rudy chẳng thích làm việc ấy tí nào. Em chỉ thích một mình leo lên các ngọn núi hiểm trở, hoặc ngồi cạnh ông ngoại để nghe kể lại những câu chuyện thời xưa và những truyền thuyết về xứ Meyringen, nơi ông cụ sinh trưởng, xứ sở ngày xưa đã bị một dân tộc thuộc dòng giống Thụy Điển từ trên tít miền Bắc xuống xâm lăng. Vì thế Rudy học được khối thứ. Trong khi lắng tai nghe những câu chuyện của nhà điêu khắc già ấy, em đã thu lượm được một kiến thức nho nhỏ mà các em khác cùng tuổi không hề có. Nhưng trí tuệ em lại càng minh mẫn nhờ sự giao du với những con vật sống trong gian nhà gỗ. Đó là Ajola, con chó lớn của cha em và một con mèo mà Rudy rất yêu quý. Chính con mèo này đã dạy em leo trèo. Một hôm mèo bảo: “Này, đi lên mái nhà với tớ đi”, em nghe hiểu ngay. Khi người ta còn bé và nói chưa sõi, người ta rất hiểu tiếng nói của gà, vịt, chó và mèo. Chúng cũng nói rành rọt như cha mẹ nói với ta. Khi ta lấy cây gậy của ông làm ngựa cưỡi chơi thì ta cũng nghe thấy nó hí và trông thấy như nó có cả đầu, cả chân và cả đuôi. Nhưng một khi ta lớn lên thì tính năng đó mất đi. Tuy nhiên, cũng có nhiều em giữ được tính năng đó lâu hơn các em khác, người ta cho rằng chúng là những đứa đần độn hạng nặng. Nhưng, người đời thật là lắm chuyện! Đây, mèo đã bảo em: “Này, đi lên mái nhà với tớ đi! Tưởng là nguy hiểm thì thật là hão huyền. Khi người ta không hề sợ ngã, thì chẳng bao giờ ngã. Nào, cậu đặt một cẳng như thế, một cẳng như vậy. Giữ cho chắc hai cẳng đằng trước. Mắt phải thật tinh, người phải thật mềm, khi tới một vực sâu cứ nhảy qua, không sợ gì cả. Trông tớ làm đây này”. Thế là Rudy thuộc lầu cả bài diễn giảng đó, theo con mèo lên tận mái nhà và các ngọn cây. Sau đó, em leo lên tận các mỏm đá nhọn, nơi mà loài mèo không leo đến bao giờ. Chính những bụi cây mọc cheo leo đã dạy em bám lấy những rìa núi chật hẹp hiểm trở nhất. Rudy thường hay trèo lên núi trước lúc mặt trời mọc, và ở đấy em thở hít không khí tươi mát, lành mạnh. Đó là một thứ rượu tiên mà chỉ có Chúa Trời nhân đức mới biết làm, và đây là cách pha chế: Hãy trộn hương thơm của tất cả các loại cỏ tươi trên núi lẫn với bạc hà, xạ hương, hoa hồng và tất cả các thứ hoa khác mọc dưới thung lũng. Hãy lọc lấy những vị thơm tinh túy nhất; còn các hơi nặng nề thì để cho mây hút đi. Nhờ gió đẩy tất cả qua những khu rừng thông, sau đó bạn được hương của một bó hoa tươi tắn, dịu dàng và cực kỳ thơm ngát. Chính Rudy sáng nào cũng lên hưởng hương thơm ấy trên núi cao. Ánh sáng mặt trời đến vuốt ve đôi má em. Thần Choáng váng, con quỷ kinh tởm đang rình mò em; nhưng có lệnh của bề trên cấm nó đến gần em bé. Những con chim nhạn trong bảy tổ chim làm dưới mái nhà của ông ngoại, bay theo em lên núi cao, nơi em chân dê, và hát lên những điệp khúc bí ẩn: “Vi ốốc i, ốốc i, ốốc vi[3]”. Chúng truyền lại cho em nghe những lời khen ngợi của mọi người trong nhà, kể cả của đôi gà mái, những con vật mà em không hề giao du. Tuy vẫn còn bé tí, em đã từng du lịch khá nhiều. Em sinh ra ở tổng Valais, từ đấy người ta mang em vượt qua dãy núi Alps về Oberland, khi em còn nhỏ xíu. Sau này, em đã từng đi bộ đến đến tận Staubbach để ngắm nghía cái thác nước mỹ lệ tỏa trong không trung như một tấm sa màu bạc chừng ba trăm thước trước ngọn Jungfrau phủ đầy băng tuyết trắng toát.
Cũng đã có lần em đến gần những dòng sông lớn ở Grindelwald nữa. Nhưng đó là một câu chuyện buồn. Mẹ em đã chết ở đấy và em đã mất hết tính vui vẻ của tuổi thơ. Thỉnh thoảng ông ngoại em lại kể rằng: “Hồi thằng Rudy lên hai, hầu như lúc nào nó cũng cười. Thư của mẹ cháu viết cho tôi toàn kể những nét vui tươi như điên rồ của cháu, nhưng từ khi cháu bị rơi xuống hang băng đến nay, cháu trở thành nghiêm nghị hơn ông già”. Ông cụ không thích nhắc đến biến cố ấy lắm, nhưng khắp vùng xung quanh, mọi người đều biết. Câu chuyện xảy ra như sau: Người ta chỉ nhớ rằng cha Rudy là một người đánh xe ngựa. Con chó lớn Ajola luôn chạy theo khi ông đánh xe từ Geneva qua đèo Simplon, đi sang nước Ý. Ông có một người em trai ở thung lũng ven sông Rhone thuộc tổng Valais. Đó là một tay săn nai[4] dũng cảm và còn làm nghề dẫn đường cho các khách du lịch. Rudy mồ côi cha từ năm lên hai. Mẹ em quyết định quay trở về quê hương Obeclan thuộc Berne, sống với ông nghoại em ở cách Grindelwald một dặm đường. Ông cụ làm nghề chạm trổ những đồ gỗ xinh xinh để kiếm ăn. Thế là đến tháng sau bà ta bế con đi cùng với hai người thợ săn nai. Họ đã vượt qua dốc núi Gemmi và đã trông thấy từ xa các nhà gỗ nằm trong thung lũng của quê hương. Họ chỉ còn phải vượt qua một con sông băng lớn nữa thôi. Đường đi thật vất vả. Tuyết vừa mới rơi xuống, che một cái vực chỉ rộng độ mấy chục thước - như thường thấy ở vùng này - nhưng lại sâu hơn một đầu người. Người thiếu phụ trượt chân, thụt xuống tuyết và cùng Rudy rơi biến xuống đáy vực. Lúc đầu người ta không nghe thấy tiếng kêu, cũng không nghe thấy tiếng rên rỉ. Nhưng chẳng bao lâu em bé cất tiếng khóc. Phải mất hơn một giờ sau hai người săn nai mới tìm kiếm được cọc và dây ở một nhà gần đấy. Sau nhiều cố gắng, đến tảng sáng họ mới mang lên được người mẹ và đứa bé nom như đã chết rồi. Người ta cứu được đứa bé còn người mẹ thì không cứu được. Em bé được mang về với ông ngoại và ông cụ đã cố gắng hết sức mình nuôi nấng em thật chu đáo. Cụ không thấy cháu cụ vui vẻ, tươi cười như mẹ nó đã tả. Em bé hầu như không bao giờ cười nữa.
Ấy là hậu quả của cái tai nạn làm em bé bị rơi vào thế giới băng giá kỳ lạ. Thế giới đó toàn là những khối băng vĩ đại sắc trắng hoặc xanh, đủ các hình thù, chồng chất lên nhau. Theo óc mê tín của nhân dân miền núi Thụy Sỹ thì linh hồn những người có tội bị giam giữ trong đó cho đến ngày phán xử cuối cùng. Bên trong sông băng có những hang rộng bao la, những vực sâu suốt đến tận trong lòng dãy núi Alps. Nơi ấy có một lâu đài tuyệt đẹp. Đó là cung điện của Nữ thần Băng giá, bà chúa của địa hạt âm u này. Mụ thích phá phách, đè bẹp và nghiền nát mọi vật. Không trung là cha mụ. Quyền lực của mục rải trên tất cả các dòng sông bắt nguồn từ xứ sở của mụ. Mụ có thể lao nhanh hơn nai lên những đỉnh núi tuyết vĩnh cửu mà người liều lĩnh nhất cũng phải đẽo bậc thang vào băng mới leo lên được. Có những lần mụ trút xuống các cành cây thông những thác nước hung dữ nhất để rồi nhảy từ mỏm đá này sang mỏm đá khác, mớ tóc dài trắng xóa tỏa phất phơ quanh mình: mụ khoác một áo choàng màu hồ thủy giống như nước các hồ vùng Helvetii. Khi người ta kéo Rudy từ dưới vực lên, mụ gào thét: “Thôi đi! Để nó đấy, nó là của ta”. Khi người ta giành chú bé mang đi, thì mụ nói: “Chúng đã cướp của ta một đứa bé xinh đẹp; ta đã ôm nó, sắp sửa cho nó một cái hôn giết chết nó. Thế là nó lại được quay về sống với người đời. Nó chăn dê trên núi. Nó trèo lên cao nữa, cao mãi. Nó đi xa hơn mọi người, nhưng không xa ta. Nó là của ta, ta sẽ chiếm được nó”. Và mụ nhờ Thần Choáng váng đi bắt em bé cho mụ; vì bấy giờ, trên dãy núi Alps xanh tươi, cây bạc hà đã mọc, mùa hè tới, làm cho mụ Nữ thần Băng giá nóng không chịu được. Thần Choáng váng bay lên không để rồi lao xuống đáy các hồ nước và người ta thấy một em của thần chui lên, rồi thêm hai, ba, rốt cuộc cả một bầy đông đảo; vì thần có rất nhiều em. Một số rình ở trên các thang gác, một số khác rình ở trên các lầu cao, gác chuông nhà thờ và mỏm núi. Chúng bơi trong không khí như cá bơi dưới nước và quyến rũ những nạn nhân của chúng để xô họ xuống vực sâu. Thần Choáng váng và Nữ thần Băng giá đều chực sẵn và chộp lấy lấy người khi người đến gần, giống như con bạch tuộc quấn tất cả mọi vật mà nó túm được. Trong tất cả lũ em của thần Choáng váng, Nữ thần Băng giá chọn tên khỏe nhất, tinh quái nhất và ra lệnh cho nó đi bắt Rudy mang về cho mụ. Nó trả lời: “Tôi không thể bắt được thằng bé ấy. Đã nhiều lần tôi đặt những bẫy hiểm ác nhất để bắt nó, nhưng con mèo khốn khiếp đã truyền cho thằng bé tất cả bí quyết của nó. Hơn nữa, có một sức mạnh vô hình cứ gạt tôi ra, che chở cho thằng ôn người trần mắt thịt ấy. Ngay cả lúc nó trèo lên cành cây chìa trên vực thẳm, tôi cù vào bàn chân nó, hả hơi làm cho nó chóng mặt, nó vẫn cứ trơ ra và không coi tôi vào đâu cả”. Nữ thần nói: - Dù thế nào chúng ta cũng sẽ bắt được nó. Nếu không phải là mi thì sẽ là ta; phải, ta đây, chính ta đây! Chợt có tiếng: “Không, không được!” như tiếng ngân vang của chuông nhà thờ. Nhưng đó chính là một bài ca thực sự. Đó là tiếng đồng ca của các Thiên thần hiền lành và đáng yêu. Lại có tiếng: “Không, không được!”. Đó là các công chúa Thái Dương. Chiều nào các nàng cũng dàn thành vòng tròn trên các đỉnh núi, xòe những đôi cánh cứ đỏ mãi lên khi vầng thái dương hạ xuống chân trời, bao phủ dãy Alps bằng một vầng hào quang rực lửa. Khi mặt trời lặn hẳn, họ chui vào lớp tuyết bao phủ các ngọn núi đá ngủ cho đến khi vầng Thái Dương lại xuất hiện. Các nàng yêu nhất là hoa, bướm và loài người; nhưng con cưng của các nàng, chính là Rudy. Các nàng ca lên rằng: “Mụ không bắt được chú ấy, mụ sẽ không chiếm được chú ấy đâu!”. Nữ thần đáp: “Ta đã từng bắt những đứa lớn và khỏe hơn nó”. Các nàng công chúa Thái Dương đồng thành hát lên một bài ca kể câu chuyện gió lốc đã giật chiếc áo choàng của một du khách như thế nào, cuốn lên không, nhưng chỉ cuốn được áo chứ không cuốn được người. Các nàng hát rằng: “Hỡi những đứa con của bạo lực, các ngươi đã túm được con người, nhưng các ngươi không giữ được con người đâu. Con người khỏe hơn cả chúng ta, khỏe hơn cả sức mạnh của thiên nhiên. Họ có thánh tri trong người. Họ giỏi hơn cả Đức Thái Dương, cha chúng ta. Họ biết những câu thần chú khiến được gió và nước phải vâng lời và phục vụ họ”. Đó là bài đồng ca của các Thiện thần. Và sáng nào những tia nắng mặt trời cũng chiếu qua cái cửa sổ độc nhất nhà cụ già, đến tận chỗ em bé đang ngủ; các nàng công chúa Thái Dương vuốt ve em bé, hôn khắp người em bằng những cái hôn nồng cháy nhất, để xóa tan vết tích cái hôn giá lạnh của Nữ thần Băng giá khi em còn nằm trong lòng mẹ dưới vực sâu, và đã được cứu thoát một cách kỳ lạ.
Little Rudy
We will pay a visit to Switzerland, and wander through that country of mountains, whose steep and rocky sides are overgrown with forest trees. Let us climb to the dazzling snow-fields at their summits, and descend again to the green meadows beneath, through which rivers and brooks rush along as if they could not quickly enough reach the sea and vanish. Fiercely shines the sun over those deep valleys, as well as upon the heavy masses of snow which lie on the mountains. During the year these accumulations thaw or fall in the rolling avalance, or are piled up in shining glaciers. Two of these glaciers lie in the broad, rocky cliffs, between the Schreckhorn and the Wetterhorn, near the little town of Grindelwald. They are wonderful to behold, and therefore in the summer time strangers come here from all parts of the world to see them. They cross snow-covered mountains, and travel through the deep valleys, or ascend for hours, higher and still higher, the valleys appearing to sink lower and lower as they proceed, and become as small as if seen from an air balloon. Over the lofty summits of these mountains the clouds often hang like a dark veil; while beneath in the valley, where many brown, wooden houses are scattered about, the bright rays of the sun may be shining upon a little brilliant patch of green, making it appear almost transparent. The waters foam and dash along in the valleys beneath; the streams from above trickle and murmur as they fall down the rocky mountain’s side, looking like glittering silver bands. On both sides of the mountain-path stand these little wooden houses; and, as within, there are many children and many mouths to feed, each house has its own little potato garden. These children rush out in swarms, and surround travellers, whether on foot or in carriages. They are all clever at making a bargain. They offer for sale the sweetest little toy-houses, models of the mountain cottages in Switzerland. Whether it be rain or sunshine, these crowds of children are always to be seen with their wares. About twenty years ago, there might be seen occasionally, standing at a short distance from the other children, a little boy, who was also anxious to sell his curious wares. He had an earnest, expressive countenance, and held the box containing his carved toys tightly with both hands, as if unwilling to part with it. His earnest look, and being also a very little boy, made him noticed by the strangers; so that he often sold the most, without knowing why. An hour’s walk farther up the ascent lived his grandfather, who cut and carved the pretty little toy-houses; and in the old man’s room stood a large press, full of all sorts of carved things-nut-crackers, knives and forks, boxes with beautifully carved foliage, leaping chamois. It contained everything that could delight the eyes of a child. But the boy, who was named Rudy, looked with still greater pleasure and longing at some old fire-arms which hung upon the rafters, under the ceiling of the room. His grandfather promised him that he should have them some day, but that he must first grow big and strong, and learn how to use them. Small as he was, the goats were placed in his care, and a good goat-keeper should also be a good climber, and such Rudy was; he sometimes, indeed, climbed higher than the goats, for he was fond of seeking for birds’-nests at the top of high trees; he was bold and daring, but was seldom seen to smile, excepting when he stood by the roaring cataract, or heard the descending roll of the avalanche. He never played with the other children, and was not seen with them, unless his grandfather sent him down to sell his curious workmanship.
Rudy did not much like trade; he loved to climb the mountains, or to sit by his grandfather and listen to his tales of olden times, or of the people in Meyringen, the place of his birth. “In the early ages of the world,” said the old man, “these people could not be found in Switzerland. They are a colony from the north, where their ancestors still dwell, and are called Swedes.” This was something for Rudy to know, but he learnt more from other sources, particularly from the domestic animals who belonged to the house. One was a large dog, called Ajola, which had belonged to his father; and the other was a tom-cat. This cat stood very high in Rudy’s favor, for he had taught him to climb. “Come out on the roof with me,” said the cat; and Rudy quite understood him, for the language of fowls, ducks, cats, and dogs, is as easily understood by a young child as his own native tongue. But it must be at the age when grandfather’s stick becomes a neighing horse, with head, legs, and tail. Some children retain these ideas later than others, and they are considered backwards and childish for their age. People say so; but is it so?
“Come out on the roof with me, little Rudy,” was the first thing he heard the cat say, and Rudy understood him. “What people say about falling down is all nonsense,” continued the cat; “you will not fall, unless you are afraid. Come, now, set one foot here and another there, and feel your way with your fore-feet. Keep your eyes wide open, and move softly, and if you come to a hole jump over it, and cling fast as I do.” And this was just what Rudy did. He was often on the sloping roof with the cat, or on the tops of high trees. But, more frequently, higher still on the ridges of the rocks where puss never came. “Higher, higher!” cried the trees and the bushes, “see to what height we have grown, and how fast we hold, even to the narrow edges of the rocks.” Rudy often reached the top of the mountain before the sunrise, and there inhaled his morning draught of the fresh, invigorating mountain air,-God’s own gift, which men call the sweet fragrance of plant and herb on the mountain-side, and the mint and wild thyme in the valleys. The overhanging clouds absorb all heaviness from the air, and the winds convey them away over the pine-tree summits. The spirit of fragrance, light and fresh, remained behind, and this was Rudy’s morning draught. The sunbeams-those blessing-bringing daughters of the sun-kissed his cheeks. Vertigo might be lurking on the watch, but he dared not approach him. The swallows, who had not less than seven nests in his grandfather’s house, flew up to him and his goats, singing, “We and you, you and we.” They brought him greetings from his grandfather’s house, even from two hens, the only birds of the household; but Rudy was not intimate with them. Although so young and such a little fellow, Rudy had travelled a great deal. He was born in the canton of Valais, and brought to his grandfather over the mountains. He had walked to Staubbach-a little town that seems to flutter in the air like a silver veil-the glittering, snow-clad mountain Jungfrau. He had also been to the great glaciers; but this is connected with a sad story, for here his mother met her death, and his grandfather used to say that all Rudy’s childish merriment was lost from that time. His mother had written in a letter, that before he was a year old he had laughed more than he cried; but after his fall into the snow-covered crevasse, his disposition had completely changed. The grandfather seldom spoke of this, but the fact was generally known. Rudy’s father had been a postilion, and the large dog which now lived in his grandfather’s cottage had always followed him on his journeys over the Simplon to the lake of Geneva. Rudy’s relations, on his father’s side, lived in the canton of Valais, in the valley of the Rhone. His uncle was a chamois hunter, and a well-known guide. Rudy was only a year old when his father died, and his mother was anxious to return with her child to her own relations, who lived in the Bernese Oberland. Her father dwelt at a few hours’ distance from Grindelwald; he was a carver in wood, and gained so much by it that he had plenty to live upon. She set out homewards in the month of June, carrying her infant in her arms, and, accompanied by two chamois hunters, crossed the Gemmi on her way to Grindelwald. They had already left more than half the journey behind them. They had crossed high ridges, and traversed snow-fields; they could even see her native valley, with its familiar wooden cottages. They had only one more glacier to climb. Some newly fallen snow concealed a cleft which, though it did not extend to the foaming waters in the depths beneath, was still much deeper than the height of a man. The young woman, with the child in her arms, slipped upon it, sank in, and disappeared. Not a shriek, not a groan was heard; nothing but the whining of a little child. More than an hour elapsed before her two companions could obtain from the nearest house ropes and poles to assist in raising them; and it was with much exertion that they at last succeeded in raising from the crevasse what appeared to be two dead bodies. Every means was used to restore them to life. With the child they were successful, but not with the mother; so the old grandfather received his daughter’s little son into his house an orphan,-a little boy who laughed more than he cried; but it seemed as if laughter had left him in the cold ice-world into which he had fallen, where, as the Swiss peasants say, the souls of the lost are confined till the judgment-day. The glaciers appear as if a rushing stream had been frozen in its course, and pressed into blocks of green crystal, which, balanced one upon another, form a wondrous palace of crystal for the Ice Maiden-the queen of the glaciers. It is she whose mighty power can crush the traveller to death, and arrest the flowing river in its course. She is also a child of the air, and with the swiftness of the chamois she can reach the snow-covered mountain tops, where the boldest mountaineer has to cut footsteps in the ice to ascend. She will sail on a frail pine-twig over the raging torrents beneath, and spring lightly from one iceberg to another, with her long, snow-white hair flowing around her, and her dark-green robe glittering like the waters of the deep Swiss lakes. “Mine is the power to seize and crush,” she cried. “Once a beautiful boy was stolen from me by man,-a boy whom I had kissed, but had not kissed to death. He is again among mankind, and tends the goats on the mountains. He is always climbing higher and higher, far away from all others, but not from me. He is mine; I will send for him.” And she gave Vertigo the commission. It was summer, and the Ice Maiden was melting amidst the green verdure, when Vertigo swung himself up and down. Vertigo has many brothers, quite a troop of them, and the Ice Maiden chose the strongest among them. They exercise their power in different ways, and everywhere. Some sit on the banisters of steep stairs, others on the outer rails of lofty towers, or spring like squirrels along the ridges of the mountains. Others tread the air as a swimmer treads the water, and lure their victims here and there till they fall into the deep abyss. Vertigo and the Ice Maiden clutch at human beings, as the polypus seizes upon all that comes within its reach. And now Vertigo was to seize Rudy. “Seize him, indeed,” cried Vertigo; “I cannot do it. That monster of a cat has taught him her tricks. That child of the human race has a power within him which keeps me at a distance; I cannot possibly reach the boy when he hangs from the branches of trees, over the precipice; or I would gladly tickle his feet, and send him heels over head through the air; but I cannot accomplish it.” “We must accomplish it,” said the Ice Maiden; “either you or I must; and I will-I will!” “No, no!” sounded through the air, like an echo on the mountain church bells chime. It was an answer in song, in the melting tones of a chorus from others of nature’s spirits-good and loving spirits, the daughters of the sunbeam. They who place themselves in a circle every evening on the mountain peaks; there they spread out their rose-colored wings, which, as the sun sinks, become more flaming red, until the lofty Alps seem to burn with fire. Men call this the Alpine glow. After the sun has set, they disappear within the white snow on the mountain-tops, and slumber there till sunrise, when they again come forth. They have great love for flowers, for butterflies, and for mankind; and from among the latter they had chosen little Rudy. “You shall not catch him; you shall not seize him!” they sang. “Greater and stronger than he have I seized!” said the Ice Maiden. Then the daughters of the sun sang a song of the traveller, whose cloak had been carried away by the wind. “The wind took the covering, but not the man; it could even seize upon him, but not hold him fast. The children of strength are more powerful, more ethereal, even than we are. They can rise higher than our parent, the sun. They have the magic words that rule the wind and the waves, and compel them to serve and obey; and they can, at last, cast off the heavy, oppressive weight of mortality, and soar upwards.” Thus sweetly sounded the bell-like tones of the chorus. And each morning the sun’s rays shone through the one little window of the grandfather’s house upon the quiet child. The daughters of the sunbeam kissed him; they wished to thaw, and melt, and obliterate the ice kiss which the queenly maiden of the glaciers had given him as he lay in the lap of his dead mother, in the deep crevasse of ice from which he had been so wonderfully rescued.
No comments:
Post a Comment